Khóa học kế toán tổng hợp

Khóa học kế toán tổng hợp

Đến trang của chúng tôi

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Một số việc nhân viên kế toán phải làm là những gì

Bạn đang quan tâm đế công việc thường ngày của một nhân viên kế toán ngân hàng. Bạn có thể  theo dõi qua bài viết dưới đây:
Cuối tháng bạn qua Ngân Hàng lấy sổ phụ về đóng thành quyển, tháng nào đóng riêng tháng đó, ít thì đóng 2 -3 tháng vào 1 quyển, và sắp xếp theo thứ tự thời gian từ đầu tháng đến cuối tháng.(Bạn nhớ kiểm tra chứng từ ngân hàng xem đã đầy đủ chưa, có UNC hay chứng từ nào chưa chụp dấu của ngân hàng hay không? chưa thì mang qua nhờ họ đóng dấu cho)
QUẢNG CÁO: Nếu bạn có nhu cầu Học kế toán tổng hợp thực hành tại Hà Nội thì hãy đến với công ty kế toán Hà Nội, chuyên đào tạo về kế toán tổng hợp với đội ngũ giảng viên nhiều năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy. Liên hệ Mrs Liên: 0982 845 668

Hàng ngày: Khi có phát sinh nghiệp vụ thì bạn hạch toán, công ty bạn nên đăng ký dịch vụ ebanking kiểm soát số dư trực tuyến, các giao dịch liên quan 112 phát sinh trong ngày. In ra và hạch toán, cuối tháng đối chiếu sổ chi tiết 112 với sổ phụ ngân hàng.
Ngoài ra, với hóa đơn trên 20 triệu, nếu chuyển khoản thanh toán nên photo chứng từ ngân hàng kẹp cùng hóa đơn trên 20 triệu. Chứng từ ngân hàng gốc của những hóa đơn trên 20 triệu thì kẹp cùng sổ phụ 112.
Giấy nộp tiền ngân sách nhà nước & UNC(nộp tiền thuế) nên bỏ riêng kẹp cùng hồ sơ khai thuế. Vì sau này, khi quyết toán Thuế, bạn phải làm bảng kê tình hình nộp tiền vào ngân sách nhà nước của công ty dựa trên chứng từ nộp thuế ( phân loại ngay từ đầu, sẽ tiện cho việc quyết toán thuế hơn.
Giấy nộp tiền ngân sách nhà nước, biên lai nộp thuế, UNC nộp thuế...của thuế nhập khẩu, giá trị gia tăng nhập khẩu, TTĐB...(nếu có) nên đóng riêng hoặc kẹp cùng tờ khai Hải Quan.
Các Giấy Nhận Nợ ( Nếu vay Ngân Hàng) thì phải lưu trữ cẩn thận, sắp xếp theo số GNN thứ tự - theo ngày phát sinh, đóng thành quyển....
Bạn bảo quản thế nào để sau này dễ tìm, dễ thấy, dễ làm việc với cơ quan Thuế lúc quyết toán Thuế. Họ yêu cầu giải trình là phải thấy ngay, không phải đợi tìm, hoặc không nhớ lưu ở đâu, tránh tình trạng mất mát chứng từ...
Về việc hạch toán thế nào với tài khoản 112 thì bạn xem kết cấu tài khoản 112(Bên Nợ phản ánh cái gì, bên Có phản ánh cái gì....), nguyên tắc hạch toán, hướng dẫn hạch toán...trong QĐ 48/2006/QĐ-BTC hoặc QĐ 15/2006/QĐ-BTC.
--------------------------------------------------
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Dạy Kế toán thuế chuyên sâu trên chứng từ thực tế.
" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Lưu ý kế toán hàng tồn kho

Hàng tồn kho là tài sản lưu động quan trọng ở nhiều Công ty chính vì vậy Công tác Kế toán hàng tồn kho cũng có tầm quan trọng không kém so với các Công tác kế toán khác.
Tồn kho là toàn bộ nguồn vào quy trình sản xuất như hàng cung ứng, nguyên vật liệu, phụ tùng… mà các Công ty dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài ra còn bao gồm cả công việc đang được thực hiện – hàng hóa đang trong nhiều giai đoạn sản xuất khác nhau – cũng như thành phẩm đang chờ xuất kho đem bán hoặc vận chuyển đến khách hàng.
Công tác Kế toán hàng tồn kho là cực kỳ quan trọng, khi hạch toán cần lưu ý đến việc xác định chi phí và lưu chuyển chi phí tồn kho như thế nào cho phù hợp.
Đầu tiên, khi xác định chi phí hàng tồn kho, cần phải xem chi phí đó là chi phí hàng được thu mua hay sản xuất. Chi phí này sau đó được đưa vào tài khoản tồn kho cho đến khi sản phẩm được xuất kho đem bán. Khi sản phẩm đã được vận chuyển hoặc phân phối đến tay người tiêu dùng, chi phí này được ghi thành tiêu phí trong báo cáo thu nhập như một phần của giá vốn hàng bán.
QUẢNG CÁO: Bạn là sinh viên kế toán mới ra trường? Bạn đang loay hoay đi xin việc nhưng kĩ năng về kế toán chưa có. Hãy đến với Lớp học kế toán tổng hợp của công ty kế toán Hà Nội. Bạn sẽ được đào tạo về kế toán một cách tổng hợp nhất những kiến thức về kế toán của một người đã đi làm. Nếu bạn có nhu cầu học hãy nhấc máy ngay và gọi đến Mrs Liên: 0982 845 668. Website: http://khoahocketoantonghop.org/
Trong trình tự kế toán hàng tồn kho, hãy tưởng tượng các chi phí đi vào tài khoản tồn kho và sau đó được chuyển khỏi tài khoản này và tính cho giá vốn hàng bán trong báo cáo thu nhập. Khi sản phẩm được chuyển vào kho và sau đó được lấy ra để phân phối đến tay khách hàng, chi phí tồn kho sẽ được chuyển vào một tài khoản rồi lấy ra sau từ đó. Tuy nhiên, bạn cần phải biết rằng rằng những dòng tiền này không cần phải song song nhau – nghĩa là, dòng chi phí vào và ra khỏi tài khoản tồn kho không cần phải đặt đúng thứ tự như lưu lượng hàng nhập và xuất kho. Như được trình bày dưới đây, chúng ta có thể quyết định trước hết sử dụng các mặt hàng tồn kho nhận được gần đây nhất vì nó giúp chúng ta tính được chi phí thực tế hơn.
Hai là, về lưu chuyển chi phí tồn kho, chi phí của mỗi mặt hàng được đặt vào kho có thể được ghi trực tiếp vào tài khoản; và khi mặt hàng được lấy khỏi kho, chi phí này bị loại trừ khỏi tài khoản. Bằng cách đó, chi phí được tích lũy trong tài khoản này có thể hoàn toàn khớp với các mặt hàng còn tồn kho, và chi phí hàng bán có thể bằng tổng chi phí của mỗi mặt hàng được bán đến tay người tiêu dung. Một hệ thống chi phí tồn kho như vậy được gọi là hệ thống nhận dạng đích danh.
Việc nhận dạng đích danh mỗi mặt hàng trong kho khá dễ nếu mỗi mặt hàng có tính riêng biệt, như tác phẩm nghệ thuật hoặc một đồ gỗ sản xuất theo đơn đặt hàng, hoặc nếu mỗi mặt hàng có mã số nhận dạng riêng, như xe ô tô. Tuy nhiên, sự nhận dạng đích danh không thực tiễn khi các mặt hàng tồn kho không thể xác định là riêng biệt, ví dụ: lúa mì, vi mạch máy tính, hay móc đồng để sản xuất giá treo. Trong những trường hợp này, các kế toán viên thường giả định sự lưu chuyển chi phí thông qua tài khoản tồn kho không nhất thiết liên quan đến việc lưu chuyển thực tế của hàng hóa.
Vấn đề kế toán đối với những mặt hàng tồn kho giống nhau đồng loạt rất rắc rối do có thể doanh nghiệp đã thanh toán chúng với nhiều giá khác nhau. Ví dụ, Công ty Amalgamated có 5.000 móc đồng nằm trong kho. Do lạm phát và một số yếu tố khác, công ty phải trả 0,1 USD cho 1.500 chiếc, 0,12 USD cho 2.000 chiếc, và 0,08 USD cho 1.500 chiếc còn lại. Vậy khi công nhân sử dụng 200 chiếc để ráp vào giá treo, chi phí nào sẽ được tính vào giá hàng bán? Nhìn chung, móc nào cũng giống nhau ngoại trừ đơn hàng và chi phí tính cho Amalgamated.
Có ba cách thức chung được sử dụng trong việc tính toán chi phí tồn kho là: bình quân gia quyền, nhập trước – xuất trước (FIFO), và nhập sau – xuất trước (LIFO). Một công ty có thể chọn bất kỳ một trong ba phương pháp nêu trên và sử dụng nhất quán cho mỗi phân loại tồn kho, bất kể hàng hóa được nhập và xuất kho như thế nào.
Sử dụng phương pháp bình quân gia quyền đòi hỏi bạn phải tính đơn giá vốn bình quân của các mặt hàng tồn kho đầu kỳ cộng với những vật liệu đã mua trong kỳ kế toán hướng tới xác định giá vốn hàng bán và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ. Đơn giá vốn bình quân thường được cho là đơn giá đại diện cho toàn bộ mặt hàng có sẵn để bán trong kỳ kế toán. Thay vì đợi đến cuối kỳ kế toán để tính đơn giá vốn bình quân, một số công ty dùng giá vốn đơn vị đã được xác định trước của tất cả các hoạt động xảy ra trong suốt thời kỳ kế toán. Đây là hệ thống định giá tiêu chuẩn và là biến thể của phương pháp bình quân gia quyền. Bất kỳ sự khác biệt nào giữa đơn giá vốn bình quân thực tế và đơn giá tiêu chuẩn đã được xác định trước trong suốt một kỳ thường được cộng vào hoặc trừ ra khỏi giá vốn hàng bán cho kỳ đó.
Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO), được thực hiện dựa trên cơ sở giả thiết rằng, số hàng xuất ra khi có giao dịch mua bán là số hàng của lần nhập trước. Như vậy, giá vốn hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của lần nhập sau.
Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO) trái ngược với phương pháp FIFO. Phương pháp này được thực hiện dựa trên cơ sở giả định rằng số hàng xuất ra là số hàng của lần nhập sau. Như vậy, giá vốn hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của lần nhập trước.
Một số nước không cho phép sử dụng phương pháp LIFO. Tuy nhiên, phương pháp này được sử dụng khá phổ biến tại Mỹ. Một lý do quan trọng cho sự phổ biến này vì LIFO là biện pháp hiệu quả hơn để đánh giá giá vốn tồn kho hiện tại. Khi các giá vốn này hợp với doanh thu bán hàng hiện tại, cả nhà đầu tư lẫn nhà quản lý đều hiểu rõ hơn điều gì đang xảy ra trong công ty. Một lý do khác nữa cho việc sử dụng phổ biến LIFO là lạm phát thường làm cho hàng tồn được mua hiện tại giá cao hơn. Giá vốn tăng này làm giảm khả năng sinh lợi từ việc bán hàng, kéo theo giảm nợ thuế phải trả.
Đối với đa số các phương pháp kế toán, luật thuế của Mỹ không yêu cầu sử dụng cùng một phương pháp trong các báo cáo tài chính do công ty phát hành cho các cổ đông, cũng như trong các báo cáo tài chính về thuế. Tuy nhiên, LIFO là trường hợp ngoại lệ. Một công ty khi sử dụng phương pháp LIFO nhằm tiết kiệm thuế phải đồng thời sử dụng phương pháp LIFO trong các báo cáo của mình phát hành cho các cổ đông. Vì lý do này, việc nộp thuế thấp cũng có điểm bất lợi: sau này cấp quản lý phải báo cáo với các cổ đông về những khoản thu nhập thấp hơn so với trường hợp sử dụng một phương án giả định tồn kho thay thế.
Đối với doanh nghiiệp, điều quan trọng cần nhớ là giả định lưu chuyển giá tồn kho tác động đến giá hàng bán, thu nhập thuần được báo cáo, và giá trị tồn kho sẽ được thể hiện trong tài sản lưu động trong bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, nếu giá hàng tồn kho tăng và phương pháp LIFO được sử dụng, thì việc nhập vào giá tồn kho cũ bằng cách giảm số lượng tồn kho đang có (gọi là phương pháp thanh lý bằng LIFO) sẽ làm vỡ thu nhập thuần. Đây là điều có thể không chấp nhận được trong các kỳ kế toán tương lai.
Chúng ta có thể kết lại rằng kế toán hàng tồn kho khá không phức tạp, bao gồm hai bước: thứ nhất, bạn phải tính được giá của các mặt hàng thêm vào tồn kho; thứ hai, bạn phải quyết định sẽ dùng phương pháp nào để tính giá các mặt hàng này khi chúng được bán hoặc giao đến tay khách hàng.
-----------------------------------------------
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Dạy làm Báo cáo tài chính trên chứng từ thực tế.
" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Kế toán doanh nghiệp Thương Mại Dịch Vụ - Nghĩa vụ của Kế toán Thương mại là gì?

Thương mại là bước trung gian liên kết sản xuất với tiêu dùng. Hoạt động thương mại là việc làm cho một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan bao gồm việc mua bán trao đổi hàng hoá, cung ứng dịch vụ thượng mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế xã hội.
Một số điểm nổi bật kinh doanh thương mại sau đây:
Đặc điểm hoạt động: hoạt động kinh tế đặc trưng của kinh doanh thương mại là giao thương hàng hoá. Giao thương hàng hoá là sự kết hợp giữa các hoạt động gồm các quá trình mua bán , trao đổi và dự trữ hàng hoá.
Đặc điểm về hàng hoá : sản phẩm trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, những sản phẩm có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về (hoặc hình thành từ các nguồn khác) với mục đích để bán. Sản phẩm trong kinh doanh thương mại được hình thành cốt yếu do mua ngoài. Ngoài ra hàng hóa còn có thể được tạo ra do nhận góp vốn liên doanh, do thu nhập liên doanh, do thu hồi nợ. Hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại có thể được phân loại theo các tiêu thức như sau :
        + Chia theo ngành hàng :
         - Hàng hoá vật tư, thiết bị (tư liệu sản xuất kinh doanh)
         - Hàng hoá công nghệ phẩm tiêu dùng
         - Hàng hoá lương thực, thực phẩm  chế biến
          Chia theo nguồn hình thành gồm : hàng hoá thu mua trong nước, hàng nhập khẩu, hàng nhận góp vốn liên doanh…
      + Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá : lưu chuyển hàng hoá trong  doanh nghiệp thương mại có thể theo một trong hai phương thức là bán buôn và bán lẻ.
Bán buôn là bán cho các tổ chức, cá nhân trung gian vơi số lượng lớn để tiếp tục quá trình luân chuyển hàng hoá.
Bán lẻ là việc bán thẳng cho người tiêu dùng cuối cùng với số lượng ít
Đặc trưng về sự lưu chuyển của hàng hoá : sự vận động của hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại  không giống nhau, còn phụ thuộc nguồn hàng hay ngành hàng. Vì vậy chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng không giống nhau giữa các loại hàng.
Nhiệm vụ kế toán doanh nghiệp thương mại
Để hoàn thành tốt vai trò là phương tiện quản lý đắc lực cho việc điều hành doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp thương mại cần hoàn thành tốt các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Ghi chép, tính toán, phản ánh số liệu hiện có, quá trình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn trong thời điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó tính toán chính xác kết quả hoạt động kinh doanh trong kì.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính, kỉ luật thu nộp, thanh toán, phát hiện kịp thời các hành vi  khi sử dụng tài sản, tiền vốn của nhà nước, tập thể.
- Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chân thực và hữu dụng phục vụ việc điều hành quản lý doanh nghiệp.
---------------------------------------------------
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Chuyên đào tạo Kế toán tổng hợp trên chứng từ thực tế.

" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Kê khai thuế và những thủ tục cần thiết?

Kê khai thuế cần những thủ tục gì? Một khi bạn đã làm kế toán, kê khai thuế là công việc không thể thiếu trong công việc kế toán. Để kê khai thuế đúng, bạn cần phải nắm được các thủ tục liên quan đến kê khai thuế. Đầu tiên là việc kê khai thuế ban đầu cho Doanh nghiệp mới đi vào hoạt động:
Hoàn chỉnh các loại hồ sơ kê khai thuế bao gồm: Giấy chứng thực đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế công chứng, quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, chứng minh nhân dân photo công chứng của Tổng giám đốc và kế toán, hợp đồng thuê, mượn địa chỉ trụ sở, tờ khai thuế môn bài.
Đăng ký loại hình kế toán, hình thức sử dụng hóa đơn, phương thức đánh giá tồn kho.
Đăng ký phương pháp trích khấu hao TSCĐ
Phiếu chuyển quản lý thuế của Cục thuế (phiếu này sẽ được Cục thuế gửi đến doanh nghiệp trong vòng 5 đến 10 ngày sau khi nhận được Giấy phép đăng ký kinh doanh + Mã số thuế).
Sau khi hoàn tất thủ tục doanh nghiệp đến Chi cục thuế để tiếp tục hoàn thiện các thủ tục kê khai thuế. Khi làm việc lần đầu xong, doanh nghiệp sẽ được phép tạo hóa đơn giá trị gia tăng(GTGT), hóa đơn tự in hoặc hóa đơn đặt in.
Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký với Cơ quan thuế thì doanh nghiệp phải lập hệ thống thang bảng lương, đăng ký lao động gửi lên phòng lao động TBXH Quận và làm hồ sơ đăng ký bảo hiểm ban đầu.
Sau đó kế toán viên cần nắm rõ các thủ tục kê khai thuế hàng tháng cho Doanh nghiệp
Hoàn thiện hồ sơ kê khai các loại thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân(TNCN) thường xuyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế tài nguyên (nếu có) bao gồm: Tờ khai thuế và các giấy tờ liên quan theo quy định.
Báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn
Nộp lên cơ quan thuế theo đúng thời hạn quy định
Lưu ý đối với việc kê khai thuế khi thay đổi thông tin đăng ký thuế:
Thông báo với cơ quan thuế trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc.
Thông qua Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế (Mẫu 08- MST).
========================
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Địa chỉ học Kế toán thuế thực hành thực tế tốt nhất

" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Chỉ dẫn dự thi kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề

Để người dự thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề hiểu rõ các điều kiện dự thi quy định tại điểm b Điều 2, khoản 2 Điều 17 và điểm c khoản 1 Điều 18 của Quyết định số 94 /2007/QĐ-BTC ngày 16/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế thi và cấp Chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành nghề kế toán, theo Công văn số 5822/BTC-CĐKT ngày 20/05/2008, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
1. Về điểm b khoản 1 Điều 2: Quy định “Có bằng tốt nghiệp Đại học chuyên ngành kinh tế, quản trị doanh nghiệp, quản trị kinh doanh có tổng số đơn vị học trình các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích tài chính, Thuế trên 10% tổng số học trình cả khoá học” được hiểu là:
- Tổng số đơn vị học trình chỉ tính phần học lý thuyết và bài tập của các môn học, không tính số tiết quy đổi đơn vị học trình của báo cáo thực tập, báo cáo kiến tập, báo cáo thu hoạch của người học.
- Trường hợp bảng điểm học đại học của người đăng ký dự thi không rõ số đơn vị học trình mà chỉ ghi số tiết học của các môn học thì tổng số tiết học của các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích tài chính, Thuế phải trên 10% Tổng số tiết học của cả khoá học.2. Về tính điểm thi môn Ngoại ngữ: Thực hiện theo Công văn số 17784/BTC-TCCB ngày 31/12/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cách tính điểm môn thi Ngoại ngữ.
3. Về khoản 2 Điều 17: Trường hợp tổ chức cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hành nghề tại nước sở tại (không phải là tổ chức nghề nghiệp) thì người dự thi phải là hội viên chính thức của tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp đó phải là thành viên của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC). Nội dung học và thi để lấy chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên phải tương đương hoặc cao hơn nội dung học và thi theo quy định tại Điều 4 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 94/2007/QĐ-BTC ngày 16/11/2007.
4.  Về điểm c khoản 1 Điều 18: Trường hợp chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên của người dự thi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (không phải là tổ chức nghề nghiệp) cấp thì trong hồ sơ dự thi phải có giấy xác nhận của tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán xác nhận người dự thi là hội viên chính thức của tổ chức nghề nghiệp.

Bộ Tài chính hướng dẫn để Hội đồng thi Kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề và người dự thi biết, thực hiện từ kỳ thi năm 2008.

---------------------------------------------------------------
Công ty Đào tạo Kế toán Hà Nội – Dạy thực hành – Học thực tế. Với môi trường đào tạo khác biệt hoàn toàn với môi trường trong trường lớp. Đội ngũ Giảng viên kế toán với kinh nghiệm trên 10 năm, Cơ sở vật chất hiện đại, kết thúc khóa học sẽ có được kiến thức tương ứng với 2 năm kinh nghiệm….
Các khóa học:
Khóa học cho người chưa biết Kế toán
Khóa học cho người đã biết Kế toán
Khóa học kỹ năng quyết toán Thuế…
" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Nhân sự kế toán tổng hợp với mức lương cao

Nhân sự kế toán luôn nằm trong nhóm ngành nghề “hot” và biến động nhiều. Là một vị trí không thể thiếu trong bất kỳ công ty, doanh nghiệp (DN) nào nên Chuyên viên kế toán luôn nằm trong “tầm ngắm” của các nhà tuyển dụng. Vì vậy, thị trường tuyển dụng Nhân viên này luôn sôi động.
Thay đổi nhiều
Mỗi năm, các trường đại học, cao đẳng và trung cấp đào tạo cho “ra lò” hàng ngàn sinh viên chuyên ngành kế toán. Nhiều bạn rất lạc quan rằng học ngành này không sợ thất nghiệp khi xu hướng thành lập công ty, mở chi nhánh kinh doanh ngày càng phát triển mạnh. Hơn nữa, phòng kế toán của mỗi doanh nghiệp đều đòi hỏi có nhiều nhân viên như: Kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán tiền lương… Đơn vị quy mô thì từ văn phòng chính xuống đến các nhà máy có khi lên đến cả chục nhân viên nghiệp vụ.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích thị trường lao động thì Nhân viên ngành này dễ biến động do nhân viên nhảy việc, chuyển đổi nghề. Có người khi mới đi làm chỉ phụ việc sổ sách nhưng sau một vài năm được huấn luyện, học hỏi nhiều kinh nghiệm tự thấy đã đủ lông đủ cánh nên… “bay”. Bộ phận khác có thời gian cộng tác với những con số lâu quá nên bỏ việc thay đổi công việc mới. Rồi nhân viên không đáp ứng được yêu cầu công việc khiến doanh nghiệp phải liên tục tim người.
Tâm lý làm việc cũng trở thành nhân tố gây nên mâu thuẫn cung – cầu không cân bằng. Không ít Nhân sự kế toán chấp nhận ngồi nhà chờ cơ hội chứ không chịu làm việc với thu nhập không thỏa đáng mà theo họ là “bị bóc lột, chỉ làm giàu cho chủ”. Rốt cuộc, vòng tròn người tìm việc, việc tìm người cứ lẩn quẩn khó kết nối được.
Cầu cao, đãi ngộ tốt
Hiện nay, tại các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn TP.HCM tuyển nhiều nhất là nhân viên kế toán lưu, kế toán giao dịch, kế toán thu – chi… với thu nhập ở mức khá. Cụ thể, Công ty Đào tạo Kế toán Hà Nội đang tuyển 50 kế toán với mức lương dao động từ 1.200.000 – 4.000.000 đồng/tháng, Trung tâm giới thiệu việc làm Thanh Niên tuyển kế toán trưởng có thu nhập 5.000.000 – 6.000.000 đồng/ tháng.
Còn với các kế toán cao cấp có các chứng chỉ quốc tế như ACCA thì thu nhập ít nhất cũng vào khoảng 2.000 USD/tháng và thường xuyên được các công ty săn đầu người “chăm sóc”. Luôn có rất nhiều doanh nghiệp sẵn sàng trải thảm đỏ mời họ về để quản lý “túi tiền” cho mình. Chỉ cần làm một cuộc thử nghiệm tìm kiếm việc làm trực tuyến trên Google là chúng ta thấy ngay số lượng “việc tìm người” (chuyên mục kế toán) luôn dẫn đầu các chuyên mục khác trong cùng một website. Các nhà tuyển dụng hay cho rằng “Thiếu thì vẫn thiếu, thừa thì vẫn thừa”, thiếu ở đây là thiếu nhân lực có kinh nghiệm, thừa ở đây là thừa nhân lực thiếu kinh nghiệm hay có thể nói chưa thực tiễn với công việc.
Và hệ quả hay gặp đối với nhân viên kế toán là: Những kế toán có kinh nghiệm luôn lạc quan tiến vào đỉnh cao sự nghiệp với niềm kiêu hãnh và nhận một mức lương khá cao. Những người chưa va chạm thực tế hoặc sẽ phấn đấu không ngừng nghỉ để học hỏi hoặc sẽ phải đổi nghề khi không còn đủ sức theo đuổi ngành kế toán và nhóm người này sẽ đổ lỗi cho bản thân hay doanh nghiệp và nhà trường… Đây là việc bình thường trong một xã hội đang phát triển, hệ thống giáo dục nhìn chung còn yếu, các trung tâm tư nhân chiêu sinh giảng dạy chưa uy tín hay chưa thể thay thế hệ thống giáo dục chính quy.
Hãy trở thành kế toán tổng hợp nhiều kinh nghiệm trước khi đăng ký dự thi lấy một chứng chỉ kế toán trưởng. Khi đó bạn vừa có đủ năng lực và bằng cấp chuyên môn, có đủ tự tin để đón nhận một công việc đầy thử thách với một mức lương vô cùng hấp dẫn. Chúc các bạn thành công!
--------------------------------------------------
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Địa chỉ học Kế toán thuế thực hành thực tế tốt nhất

" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên)

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Hoạt động kiểm tra - kiểm soát tài chính của cơ quan quản lý Nhà nước

Chức năng kiểm tra - kiểm soát tài chính của cơ quan quản lý tài chính Nhà nước
Hoạt động kiểm tra - kiểm soát tài chính của cơ quan quản lý tài chính Nhà nước bao gồm có 2 chức năng sau:
Thứ nhất , kiểm tra - kiểm soát việc thực hiện pháp luật , chính sách , chế độ tài chính , kế hoạch sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) của các cơ quan , tổ chức và công dân.
Qua kiểm tra - kiểm soát, cơ quan quản lý tài chính nhà nước nhận được những thông tin phản hồi về đối tượng quản lí địa chỉ học kế toán tổng hợp
Giúp cơ quan quản lý nhà nước có được thông tin kịp thời và chính xác tình hình quản lý tài chính của đối tượng quản lý, giúp cho đối tượng quản lý kịp thời sửa chữa những thiếu sót , đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các quyết định quản lý tài chính, kịp thời ngăn chặn những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán của cơ quan, tổ chức và công dân. Từ đó, góp phần tăng cường pháp chế tài chính và giúp cơ quan quản lý xem xét tính đúng đắn của các quyết định quản lý, thấy được những sai sót, khuyết điểm trong tổ chức điều hành, những kẽ hở trong quản lý để nghiên cứu thay đổi cho phù hợp với mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý nền tài chính quốc gia.
Các hoạt động tài chính trong các tổ chức, cơ quan không chỉ đơn giản là hoạt động theo tiêu chí tiền tệ từ các nguồn NS khác nhau mà bao gồm hàng loạt các mối quan hệ kinh tế trong đầu tư, hoạt động nghiệp vụ và phân phối lại các nguồn lợi được biểu hiện bằng tiền. Vì vậy, việc kiểm tra - kiểm soát trong lĩnh vực tài chính là công việc rất quan trọng nhưng đầy khó khăn và phức tạp có liên quan đến lợi ích Nhà nước, các tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, trong thực tế, sự nhìn nhận chức năng và đặc điểm hoạt động kiểm tra- kiểm soát tài chính của cơ quan quản lý tài chính Nhà nước rất khác nhau ở từng cá nhân, từng cơ quan và địa phương.
Không chỉ vậy, thông qua thực hiện chức năng kiểm tra - kiểm soát việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính…, còn giúp chủ thể tìm ra kẽ hở trong cơ chế quản lý kinh tế - tài chính trong việc xem xét thực thi các biện pháp quản lý tài chính của Trung ương đối với các ngành , địa phương và đơn vị.
Hai là , kiểm tra - Kiểm soát tài chính đi đôi với việc thực hiện việc xem xét và giải quyết khiếu nại , tố cáo về tài chính .
Việc xem xét và giải quyết khiếu nại , tố giác về tài chính bao gồm các nội dung sau : kiểm tra – kiểm soát ngân sách nhà nước (NSNN) , kiểm tra - kiểm soát quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản , kiểm tra - kiểm soát việc chấp hành chính sách , chế độ tài chính đối với các DN, các đơn vị HCSN , kiểm tra - kiểm soát thuế , kiểm tra - kiểm soát chi NSNN , kiểm tra - kiểm soát nhằm ngăn chặn tiêu cực và chống tham nhũng .
Kiểm tra - kiểm soát NSNN bao gồm kiểm tra - kiểm soát về thu và chi NSNN. Trong đó, kiểm tra - kiểm soát thu NSNN như thuế và các khoản thu ngoài thuế, kiểm tra - kiểm soát chi NSNN như vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại các cơ quan tài chính, đơn vị chủ đầu tư, đơn vị nhận thầu xây lắp, kiểm tra - kiểm soát tại các đơn vị hành chính sự nghiệp như đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị cơ sở trực tiếp sử dụng kinh phí, kiểm tra - kiểm soát việc thực hiện chế độ quyết toán và xét duyệt quyết toán.
Kiểm tra - kiểm soát quỹ NSNN bao gồm kiểm tra - kiểm soát việc hạch toán kế toán và quản lý thu NSNN qua KBNN, kiểm tra - kiểm soát việc sử dụng ngân sách để chi của KBNN, việc cấp phát, cho vay , thu nợ đối với các chương trình , mục tiêu qua KBNN, việc quản lý tồn ngân quỹ, tiền mặt, kho quỹ, việc mở tài khoản, quản lý hoạt động các tài khoản tiền gửi, tài khoản tạm giữ tại KBNN.
Kiểm tra- kiểm soát tài chính doanh nghiệp(DN) là công tác kiểm tra - kiểm soát các hoạt động tài chính của DN với chủ thể bởi bản thân DN ( kiểm tra - kiểm soát nội bộ ), đồng thời, có thể được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức kiểm tra - kiểm soát chuyên nghiệp ( kiểm tra - kiểm soát từ bên ngoài ). Đối tượng của kiểm tra - kiểm soát tài chính DN là các hoạt động tài chính của DN. Đặc điểm của kiểm tra - kiểm soát tài chính DN là một bộ phận của kiểm tra - kiểm soát tài chính nói chung, có các đặc điểm là được tiến hành rà soát tại DN và tiến hành sau khi các vụ việc đã phát sinh, trong kiểm tra - kiểm soát tài chính DN : các DN vừa là đối tượng kiểm tra - kiểm soát (khách thể của kiểm tra- kiểm soát )vừa là chủ thể quản lý. Là đối tượng kiểm tra - kiểm soát, DN phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về cung cấp tài liệu, số liệu…theo đề nghị của tổ chức và cá nhân kiểm tra - kiểm soát, là chủ thể quản lý, DN được quyền biết mục đích, yêu cầu, nội dung kế hoạch kiểm tra - kiểm soát, được quyền giải trình khi chưa đồng tình với đánh giá của tổ chức đánh giá của tổ chức kiểm tra - kiểm soát, đồng thời, có trách nhiệm thực hiện những kết luận, kiến nghị của tổ chức kiểm tra - kiểm soát tài chính .
Đặc điểm kiểm tra - kiểm soát tài chính của cơ quan tài chính Nhà nước
Hoạt động kiểm tra - kiểm soát tài chính có 3 đặc điểm cơ bản:
Một là , hoạt động kiểm tra – kiểm soát tài chính mang tính tổng hợp và đa dạng
Tính tổng hợp của kiểm tra - kiểm soát tài chính thể hiện ở quá trình kiểm tra - kiểm soát thường liên quan đến nhiều lĩnh vực , mỗi lĩnh vực lại tổng hợp nhiều vấn đề có ảnh hưởng lẫn nhau, kết quả của nó là những kết luận , giải quyết , xử lý không chỉ có giá trị đối với đơn vị được kiểm tra - kiểm soát mà còn có tác dụng chung trong hệ thống quản lý tài chính .Sự đa dạng của nó thể hiện ở sự việc , đối tượng , hình thức là không giống nhau, ở mỗi cuộc kiểm tra - kiểm soát như kiểm tra - kiểm soát quản lý và điều hành NSNN , kiểm tra - kiểm soát sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản , kiểm tra - kiểm soát thuế…
Hai là , kiểm tra - kiểm soát tài chính là hoạt động gắn liền với công tác đấu tranh với những sai trái , tiêu cực trong việc chấp hành pháp luật , chính sách , chế độ tài chính và chấp hành các quyết định quản lý của các cơ quan , tổ chức và công dân .
Kiểm tra - kiểm soát tài chính có đặc trưng là xem xét tại chỗ , xác định rõ đúng , sai đối với vụ việc và con người liên quan đến vi phạm quản lý tài chính của Nhà nước . Kết quả tác động của kiểm tra - kiểm soát tài chính đến đối tượng kiểm tra - kiểm soát không phải là sự phản chiếu đơn thuần mà là sự phản ánh đúng hay sai , ảnh hưởng đến việc tiến hành việc quyết định quản lý tài chính …Ba là , tổ chức và cá nhân được kiểm tra - kiểm soát tài chính vừa là đối tượng vừa là chủ thể quản lý .
Kiểm tra - kiểm soát là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) và phạm vi quản lý mở rộng đến đâu thì phạm vi kiểm tra - kiểm soát cũng cần mở rộng tương ứng. Theo đó, tổ chức và cá nhân được kiểm tra - kiểm soát đều là thành viên trong cơ cấu bộ máy quản lý và có quyền hạn và trách nhiệm nhất định trước pháp luật, họ vừa là đối tượng kiểm tra - kiểm soát, vừa là chủ thể quản lý.
Kiểm tra - kiểm soát tài chính là công việc thường xuyên tác động lên mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan , tổ chức và cá nhân để phục vụ cho công tác điều hành được tốt hơn, kịp thời xử lý, phòng tránh những sai phạm có thể xảy ra. Những phương pháp chủ yếu thường được sử dụng trong kiểm tra - kiểm soát tài chính là phương pháp đối chiếu và so sánh .
-------------------------------------------------
CÔNG TY ĐÀO TẠO KẾ TOÁN HÀ NỘI   
Chuyên dạy thực hành kê khai Thuế trên chứng từ thực tế.
" CAM KẾT KHÔNG THÀNH NGHỀ KHÔNG THU HỌC PHÍ "
Mọi chi tiết xin liên hệ: Phòng đào tạo
Tel: 04. 2260.1299
Hotline: 0982 845 668 – 0120 815 0000 ( Mrs Bích Liên